Thương tiếc Chị Hồng Hoa

ptl-candles1

Chị Hồng-Hoa thânmến:
Ngày 25 tháng 11 năm 1998, Chị đã viết cho anh Nguyễn tường Cẩm: “Kính gởi anh Cẩm, Tôi là Nguyễn thị Hồng-Hoa, thành thật xin lỗi anh về sự chậm trễ trong sự đóng góp hình ảnh và kỷ niệm cho Đặcsan Kỷniệm. Tôi học khóa I CTKD (ngày đámcưới anhchị tôi cũng có dự vào rất vui, đầy kỷ niệm). Tôi lập gia đình vào năm 1971 và có hai cậu trai. Gia đình chúng tôi định cư tháng 7, 1985, tại tiểu bang Oregon, cũng là quê hương thứ hai của chúng tôi. Hiện chúng tôi có công ăn việc làm và đời sống tương đối ổn định.”

Chị Hoa ơi,

Trong những năm qua chúngtôi maymắn được biết Chị nhiều hơn để rồi càng ngày càng quýmến Chị. Chị hiềnlành, thànhthật, đơnsơ, khiêmnhường, mau xinlỗi chứ không đổtội, không oántrách cũng chẳng hậnthù, ghét phôtrương và không kênhkiệu, luônluôn nghĩ tốt cho mọi người. Chị đã chutoàn bổnphận đối với chồng con. Chính nhờ có Chị mà hai cháu ngàynay đã nênthân nênngười. Đốivới bạnbè và thanhân Chị đã luônluôn hòanhã, baodung và kínhtrọng. Chị đã âmthầm giúpđỡ nhiều người mà khônghề kểcông, khônghề khoekhoang pháchlối.

Chị Hoa ơi,

Chúngtôi tiếcrằng đến lúc được rảnhrỗi để hưởngnhàn thì Chị lại lặnglẽ rađi. Cuộcđời trầnthế chỉ vỏnvẹn 63 năm. Từnay mỗilần nhớ đến Chị, nhớ đến tên của Chị là Hồng-Hoa thì tôi sẽ liêntưởng đến câuthơ tiếngpháp “Et Rose, elle a vécu ce que vivent les roses: L’espace d’un matin..” mà tôi xin tạmdịch thành bốn câu năm chữ như sauđây:

F5425950-56EF-47EB-BCC6-B782FADA6B32

Chị là một đóa Hường
Thoang thoảng nhẹ mùi hương
Sống cuộc đời không dài
Bằng một buổi sớm mai.

Chị Hoa ơi,

Chị là một người nhânái từbi, có căntu tạigia, đầy phúcđức. Những vị chântu như Cha Nguyễnvăn Lập, Cha Ngôduy Linh, Cha Lêvăn Lý, Thày Nguyễnvăn Kế chắcchắn đang sẵnsàng đónrước Chị và dìudắt Chị đến cõi trườngsinh để hưởng phúcnhàn với Đấng Thiênliêng.

Xin Chị phùhộ độtrì cho chúngtôi: Anh Hoàng, cháu Hậu, cháu Huân, và các bạn đồngmôn, đồngkhóa khắp bốn phươngtrời… Xin báibiệt Chị.

Trần Long và Ánh Nguyệt

Advertisements
Posted in Memoirs-Miscellaneous

Chị TrâmAnh NgôđìnhLong

Tiễn đưa Chị TrâmAnh NgôđìnhLong về nước Chúa
Anh NgôđìnhLong thân mến,

Được tin thật buồn là Chị đã thất lộc, anh TrầnLong và tôi rất ngậm ngùi thương tiếc một người bạn đường cùng chia sẻ ngọt bùi với Anh và cũng là một người đáng kính mến của chúng tôi. Xin gởi vài hàng tưởng niệm người quá cố.

Chị Long ơi, mình ít khi gọi chị đúng tên là Trâm-Anh, vì theo truyền thống lúc ấy, Chị là phu nhân của ông Giámđốc Nguyên Tử Lực Cuộc Đà Lạt NgôđìnhLong và mọi người quen biết, từ Cha Viện Trưởng trở xuống đều gọi Chị là Bà Long. Ngay lúc đầu Chị là thần tượng mà tôi muốn trở thành. Dáng người đoan trang trong âu phục hay trong tà áo dài quốc phục, Chị niềm nở với mọi người, giúp đỡ mọi người tới văn phòng Trung tâm văn hóa hội Việt Mỹ Đà Lạt mà Chị là Phó Giám Đốc. Phải nói việc giao tế với công chúng Việt Nam tại Đà Lạt, Chị đã chiếm phần đầu.

Sau trận Tết Mậu-Thân (1968), gia đình của Anh Chị và chúng tôi trở thành lân giao liền vách trong một căn nhà ngăn đôi trong khuôn viên của Viện Đại Học. Cũng vẫn thấy Chị lúc nào cũng an nhiên cáng đáng việc gia đình và việc làm ở sở không hề nao núng. Rồi gia đình chúng tôi lại trở về Sài Gòn và chỉ gặp lại gia đình của Anh Chị khoảng mười năm sau ở đất lạ quê người.

Bổn phận làm Mẹ xong vì hai con đã lớn, Chị lại thích làm việc với cộng đồng Việt Nam, đoái hoài với người đồng hương, bỏ công cả của gây quỹ tương trợ khắp nơi. Mỗi người một chí hướng. Chị đã trọn vẹn ý nguyện và để lại với những người thân thương của Chị, Chồng, con, cháu và chắc một mẫu người lý tưởng: con thảo, vợ hiền, một bà ngoại và bà cố bao dung, quảng đại. Riêng mình và các Anh Chị cựu sinh viên của Viện Đại Học Đà Lạt không bao giờ chúng tôi quên bóng dáng một phụ nữ Việt Nam hiền lành, mỹ lệ, biết thương mình và thương người.

Người xưa có câu: Ô hô! tuyết chảy, mây tan, hoa tàn, trăng khuyết.

Thành kính phân ưu.

Ánh Nguyệt TrầnLong

0E8B7C1B-165C-402F-AE99-BB9F9E226BC8

Posted in Memoirs-Miscellaneous | Leave a comment

My Brother Tỉnh (1940-2015)

Dear Thunhan Friends,

Thank you for your condolences expressed through mail and phone . All the rites and rituals on Friday evening August 14 at the Peek Funeral Home and the Requiem Mass the next morning at the Blessed Sacrament Church were very moving and dignified. In IMG_1730 the widow (Elena Phan) was paying homage and respect to her husband, while standing nearby were grandson Daniel and daughter Winnie Tran.

Below is a free translation of my Vietnamese handwritten note, shown in IMG_1746, delivered toward the end of the funeral Mass as my tribute and orison.

Dear Family and Friends,

Permit me to say a few words to my youngest Brother.

Forever Silenced in This Terrestrial World,

You’re Now Singing Hosanna in God’s Paradise.

 

My Dear Brother Tỉnh,

Though more than twelve years younger, you left me stranded in this valley of tears. Sadly, alas.

I remember when you were about four or five, during a summer vacation from my boarding school, we netted dragonflies in daytime and caught fireflies at nighttime. That was more than 70 years ago.

You were a humane and gentle person; yet, ironically, you had to spend more than 13 years as a reserve officer in the South Vietnam’s Armed Forces and, after April 1975 another 13-plus years as a hard-labor prisoner in communist concentration camps in northern and southern Vietnam. Released at age 48, you had to wait another eight years before reaching the free shore of the United States with wife and two children.

Since then your family has settled permanently in Orange County, California, toiling in physical drudgery, but at least, enjoying peace of mind. Now your son Tâm and your daughter Uyên have married well. The only regret is that you did not linger long enough to see your grandchildren Danny, Tina and Ethan graduate from college.

Dear Brother, rest in peace and enjoy your new Edenic life.

O my Lord, I commend my brother’s spirit into your hands.

O my Lord, have mercy on the soul of Vincent Tran van Tỉnh.

Alleluia, alleluia, alleluia.

 

Joy and peace to all my friends,

Peter Tranlong

Posted in Memoirs-Miscellaneous | Leave a comment

HAI ĐẤNG SINH THÀNH

HAI ĐẤNG SINH THÀNH

Nhà thày mẹ tôi nằm chừng 50 mét phía trước cổng tamquan nhàthờ họđạo Vinhhạ. Lúc được bốn tuổi, hằngngày tôi bị đánhthức khi trời còn tối hoặc mới tờmờ sáng rồi theo anh tôi đibộ gần hai câysố tới nhàthờ giáoxứ Phátdiệm để đọc kinh và xem lễ; khi trởvề nhà thì thường thấy mặttrời đã lêncao tới đầu ngọntre, tôi mệt và đói nên một bát cháo và mấy củ khoai cảmthấy ngon hếtsức.

B7769210-9D39-4102-8D92-AFE903A907D6

Giađình tôi, cha thì gọi là thày, chứ không gọi là bố hay ba; “thưa thày, thưa mẹ,” là câu tôi nhớ nằmlòng suốtđời cho tới khi hai đấng được Chúa đưa về hưởng nhanthánh trên nước thiênđàng. Đầu thếkỷ 20 ở Phátdiệm những người biết chữ là chữnho và chữnôm, chứ chưa biết chữ “quốcngữ”. Nghe nói thày tôi, ông Trần xuân Nhật, sinhra vào đầu năm tânsửu 1901, nhưng không rõ ngày tháng (Ông Ngôđình Diệm được ghi rõ ngày sinh là 31-1-1901 – cuối năm canhtý); nhưvậy ông Diệm chàođời trước thày tôi vài tháng. Ngày sinh nơi sinh của mẹ tôi, không ai biết, vì là con nuôi của ông bà ngoại và không có giấy khaisinh. Tại chợ Phúvinh, lớn nhất trong huyện Kimsơn, bà ngoại có sạp bán thựcphẩm. Một buổichiều cuối năm bínhngọ 1906, khi đang thudọn sạp thì nghe có tiếng khóc thútthít xaxa ở góc chợ; bà lại gần thì thấy một bé gái và đoán là bị bỏrơi, đem về nhà tắmrửa rồi cho ănuống. Tối bắt đọc kinh thì không biết làm dấu thánhgiá. Cả tuầnlễ sau ngồi ở sạp, bà không thấy ai tìmkiếm trẻlạc. Đến gặp cha xứ thì được phép cho rửatội và đặttên là Inê Nguyễn thị Láng; cha ghi là sinh năm quýmão 1903. Ông bà đã có cô Sáng sinh năm canhtý và cô Soi sinh năm bínhngọ, mẹ tôi lọt ngay vào giữa; trênđây là chuyện conrơi theo ngườinhà kể lại.

3793B5EC-E0CF-4267-A326-E880DBCD2DD3
Giađình thàymẹ tôi vào bậc khágiả trong làng, vì cảhai rất chịukhó, cốgắng, không quảnngại trong nhiều ngànhnghề khácnhau, như canhtác ruộnglúa, chứatrữ và buônbán thócgạo, nghề dệt và bán chiếu, nghề chăn-ấp-bán-vịtcon trứngmuối trứngvịtlộn, rồi hùnhạp buônbán bôngsợi vảivóc từ Thanhhóa ra Namđịnh Phủlý và Hàđông. Khi tôi đã xuấtdương duhọc và giặcpháp chiếmđóng Phátdiệm khoảng đầu năm 1950, giađình đổi sang nghề chụphình và buônbán vậtliệu nhiếpảnh cho đếnkhi đấtnước chiađôi thì buôngbỏ hết để dicư vào cuối năm 1954.
Khoảng đầu thậpniên ’20 thàymẹ làm đámcưới và sinh contrai đầu chếtyểu, rồi contrai kế (anh Tiên 1925-2000), thứba là tôi năm mậuthìn 1928. Congái út, Tố-Nga, sinh vào mùahè mậutý 1948. Khi Sàigòn thấtthủ thì thàymẹ còn bảy người: năm trai Tiên Long Nam Định Tỉnh và hai gái Bưởi và Tố-Nga; hiệnnay chỉ còn cô Bưởi, góachồng, kẹtlại sống gần concháu tại Sàigòn. Giatộc chúngtôi gốcgác ở Tháibình, hìnhnhư theochân nốigót ông Nguyễncông Trứ (1778-1858) đến lậpnghiệp ở vùng Phátdiệm, huyện Kimsơn, và theo đạo cônggiáo mãi từ thời đó. Thàymẹ tôi rất ngoanđạo, đọc kinhsáng kinhtối và xemlễ hằngngày; khi sinhra tôi thì thày tôi đã làm quảngiáo họđạo Vinhhạ nhiều năm để dạydỗ kinhbổn và giáolý cho đám trẻ trong họđạo, rồi làm ôngtrùm họđạo, sauđó lên chức tuầnkiểm giáoxứ Phátdiệm. Với danhvị này, thày tôi xướngkinh cho bổnđạo đọctheo trong nhàthờ chínhtòa giáophận Phátdiệm. Cuối năm 1954 giađình trốn Việtminh ditản vào Sàigòn, sau một thờigian ra khỏi trại tịnạn rồi tạmcư ở cănnhà vùng ngoại-ô thànhphố Giađịnh. Năm sau tôi xong caohọc ở Syracuse University rồi về đoàntụ và giúpđỡ giađình sang cănphố 297 Võ di Nguy rồi thêm cănphố 330 Trương minh Giảng, mở hai tiệm chụphình cho Nam và Định tiếptục hànhnghề nhiếpảnh. Thày mẹ tôi được tươngđối rảnhrỗi để chơi với concháu và đi nhàthờ đọckinh cầunguyện lo việc linhhồn.

Đã từng phải sống nhiều năm với Việtminh cộngsản ngoài bắc, rồi trốn bọn cônđồ Việtcộng mà cũng không xong. Sau ngày Sàigòn thấtthủ, thàymẹ tôi đành phải sống thêm nhiều năm nữa với chúngnó. Năm 1981 tôi làm thủtục bảolãnh thì thàymẹ tôi được đi Hoakỳ năm 1986. Hai đấng chưa chịu đi, vì già-yếu lại nữa vì giađình mấy em tôi chưa xong giấytờ. Thế rồi Cụ Antôn Trần xuân Nhật quađời ngày 26 tháng 4 năm 1990 và gần hai năm sau đến lượt cụbà Inê Nguyễn thị Láng. Trước khi tạthế hai đấng đã nhậnđược đầyđủ các phép bítích dể dọn mình về nước trời hưởng tônnhan Chúa và phùhộ cho concháu còn ở thếgian. Tôi tônkính và cảmơn hai đấng sinhthành, hai đấng đã dạydỗ tôi cho nên người./.

Kinh Sáng Soi: Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng tôi được biết việc phải làm cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh mỗi việc chúng tôi từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen

Kinh Đội Ơn: Lạy Chúa tôi tôi đội ơn Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban cho tôi xưa nay nhất là đã dựng nên tôi và cho con Chúa chịu chết mà cứu chuộc tôi lại chọn lấy tôi làm con hội thánh nữa. Amen

Posted in Memoirs-Vietnamese | Leave a comment

ÂN NHÂN ĐÁNG KÍNH

ÂN NHÂN ĐÁNG KÍNH

Trong quãng đời 90 năm qua tôi đã được nhiều người giúpđỡ, vị ânnhân vĩđại mà tôi tônkính và nhớơn mãimãi là Cha Jacques. Lúc tôi mười tuổi thì Cha đến ở họđạo Vinhhạ để bắtđầu học tiếngviệt với bố tôi, khiđó là ôngtrùm đứngđầu họđạo. Bố tôi và mọi người cônggiáo xứ Phátdiệm gọi Cha là Ông Cố Bỉ, tuy Cha mới làm linhmục và côngtác đầutiên là sang phụcvụ giáophận Phátdiệm. Tuổiđời khoảng 26 và thua bố tôi chừng một congiáp, Cha thích tôi lắm vì gặp hằngngày để nóichuyện bằng tiếngviệt hay tiếngpháp. Thấy tôi học giỏi Cha muốn đỡđầu cho tôi đitu để làm linhmục, bố mẹ tôi rất mừng. Cha dạy ở chủngviện chừng ba năm, hướngdẫn tôi rất nhiều về đờisống thểchất, trínão và tâmlinh. Từ Phátdiệm Cha chuyển vào Huế khoảng đầu năm 1942 làm giáosư trường Providence (Thiênhựu) cho đến khi Việtminh cướp chínhquyền vào tháng 8 năm 1945. Lúcđó tôi đang theo trunghọc ở Hànội và quá maymắn được gặplại Cha, trong chiếc áochùng đen bạcmàu taytrái đeo băng trắng chữ đenđậm “Bỉ-Kiều” (tôi đoán Cha đeo băng đó để khỏi bị giết như các Cố Tây phápkiều). Trong giờphút đó Cha chobiết sẽ trởvề quêcũ Louvain-Belgium và sẽ cốgắng liênlạc để giúp tôi xuấtdương duhọc.

9E53526D-D8EC-43A4-8AED-78F921B8484B

 
Cuối năm 1946 chiếntranh Việt-Pháp bùngnổ, tôi trởvề quê sống với giađình trong vùng Việtminh. Giữa năm 1949 tôi thoát ra Hànội và liênlạc được với Cha, rồi Cha giúpđỡ cho tôi qua Pháp rồi sang Mỹ tới University of Portland, Oregon. Từđó tôi được dịp cấtcánh baybổng tới The Maxwell Graduate School, Syracuse University, New York. Cuối năm 1955 tôi tốtnghiệp M. A. Kinhtế Tàichánh rồi về Sàigòn khi đấtnước đã bị chiađôi. Từ đầu năm 1956 cho tới cuối tháng 4 năm 1975 tôi hoạtđộng tíchcực trong cả hai lãnhvực công và tư để phụcvụ nhânquần xãhội, đặcbiệt là bảy năm điềukhiển Trường Chánhtrị Kinhdoanh tại Đàlạt và năm năm điềukhiển Hội Đạihọc Dalat tại Sàigòn.
Saukhi địnhcư tại Hillsboro năm 1975, tôi liênlạc trởlại với Cha và được biết vắntắt những đoạnđường mà Cha đã đi: 1912-38 thiếuniên đitu làm linhmục, 1938-45 linhmục thừasai tại Phátdiệm và Huế, 1945-48 trởvề quêhương giúpđỡ sinhviên Việtnam tại Belgium và France, 1948-61 trụ tại Chicago, Illinois, lái xehơi đi khắp các đạihọc để kiếm họcbổng cho sinhviên Việtnam, 1961-74 linhmục thừasai tại Mexico để giúpđỡ thanhniên thiếunữ nghèokhó thấphèn, 1974 trởvề quêcũ phụcvụ giáoxứ Virginal, Belgium, cho tới tuổi 78 mới nghỉhưu và tĩnhdưỡng tại Center of the Third Age of Waterloo. Cha Emmanuel Jacques Houssa sinhra tại Liège vào Thứtư 27-3-1912, quađời tại Bruxelles vào Thứnăm 21-6-2001. Một cuộcđời thật phongphú với rất nhiều thànhquả. Suốtđời tôi tônkính và cámơn Cha Jacques./.

Posted in Memoirs-Vietnamese | Leave a comment

TÓM TẮT ĐỜI TÔI

Trần Long

Ngày 8-6-1928 Sinh ra tại Phátdiệm, Ninhbình, Bắc Việtnam.

1935-46 Tiểuhọc và trunghọc tại Ninhbình và Hànội tại các trường cônggiáo dưới sự hướngdẫn của các thàydòng Lasan và các cha Đaminh.

1946-49 Họcvấn bị giánđoạn khi chiếntranh Việt-Pháp bùngnổ vào cuối năm 1946, trởvề quê Phátdiệm sống với giađình.

1949-56 Giữa năm 1949 thoát khỏi vùng Việtminh bằng đường biển từ Phátdiệm qua Hảiphòng vào Hànội; cuối năm đó bay từ Hànội vào Sàigòn rồi lên tàuthủy tới Marseille vào đầu năm 1950. Sống tại Paris tới tháng 9 thì đáp tàuthủy từ Le Havre tới New York City rồi bay tới Portland, Oregon. Sau bốn năm tại University of Portland tôi tốtnghiệp B.Sc. Quảntrị Kỹnghệ năm 1954 rồi được thêm họcbổng chuyển tới Syracuse University, New York, học tại Maxwell Graduate School và tốtnghiệp M. A. Kinhtế Tàichánh cuối năm 1955, rồi sauđó về Sàigòn.

1956-96 Sau một năm phụtrách tổngquát tuầnbáo The Times of Vietnam tôi gianhập ban giámđốc Hãng Dầu Stanvac (Standard-Vacuum Oil Company) với chức phụtá giámđốc tàichánh kếtoán, rồi sauđó chức giámđốc giaotế. Ngày 1-2-1959 là ngày thànhhôn với cô Ánh-Nguyệt, giáosư anhvăn tại trường nữ-trunghọc Gialong. Tháng 9 năm 1961 bị độngviên học khóa sĩquan trừbị Thủđức. Đầu năm 1964 được biệtphái và chuyển lên Đàlạt để điềukhiển Trường Chánhtrị Kinhdoanh, Viện Đạihọc Đàlạt. Từ đầu tháng 7 năm 1970 tới cuối tháng 4 năm 1975 về Sàigòn làm tổngquảnlý Hội Đạihọc Đàlạt để điềuhành những tàisản sinhlợi hầu tàitrợ cho Viện Đạihọc. Đêm 29-4-1975 giađình mười người thoát khỏi Sàigòn ra tàuchiến Hoakỳ rồi tới Subic Bay, sauđó tới Guam và trại tỵnạn Fort Chaffee. Chủnhật 15-6-1975 cả giađình xuấttrại rồi bay tới Portland và địnhcư tại Hillsboro, Oregon, cho tới tận hômnay. Từ đầu năm 1976 đến giữa năm 1996 làm thanhtra kiểmtoán cho hai ngânhàng tư ở Oregon và Washington với chứcvụ chót là Audit Officer của Washington Mutual Bank. Về hưu từ ngày 8 tháng 6 năm 1996.

68D16168-6D1A-4B80-887B-405721F9E79A

Khi mới địnhcư tại Hillsboro thì người contrai đầu chưa đầy 16 và người congái út mới hơn hai tuổi. Lúc tôi về hưu thì tấtcả tám người, năm gái ba trai, đã xong các bằngcấp đạihọc và đilàm tại các côngsở tưsở hoặc tự khởixướng côngty riêng. Trong tám người thì có ba người ở cách nhà chúngtôi chừng năm sáu dặm, hai người ở California, một ở Virginia, một ở Florida, và người concả ở cạnh bờ sông Seine chừng năm câysố phía bắc Palais de Versailles, Paris, France. Chođến hômnay chúngtôi đếmđược 18 cháu nội-ngoại, chín gái chín trai.

1C10E98B-75E2-4379-95D7-0254160C71DE.png

Từ tháng 6 năm 1996 chúngtôi đã đi khắp nơi để thăm concháu, họhàng, bạnbè, và nhất là các cựusinhviên Viện Đạihọc Đàlạt. Từkhi Internet thịnhhành giáosư và sinhviên đã tổchức hai năm một lần các phiên họpmặt gọi là Đạihội Thụnhân Thếgiới: Năm 2000 tại Nam Cali, năm 2002 tại Bắc Cali, năm 2004 tại Houston, năm 2006 tại Vancouver-B.C., năm 2008 tại Washington-D.C., năm 2010 tại Melbourne-Australia, năm 2012 tại Paris-France, năm 2014 tại Montreal-Canada, năm 2016 trởlại Orange County ở Nam Cali, và năm 2018 sẽ tổchức tại San Jose ở Bắc Cali. Chúngtôi đã thamdự tấtcả các kỳ đạihội trên và dựtính sẽ tiếptục thamdự các kỳ sau nếu còn khỏemạnh và minhmẫn.

B4FDF046-A3DF-4C51-91AD-A6974E18D37F

Cănnhà chúngtôi đang ở, đã trả xong nợ từ năm 2000, nằm cạnh Dawson Creek với nhiều câycối thiênnhiên đủmầu đủloại. Ngoài tàisản này, còn có lợitức đầutư IRA-401k và hưubổng hằngtháng, nên chúngtôi không lolắng về tàichánh.

Theodõi tintức, đọcsách đọcbáo và đibộ đibơi hầunhư hằngngày, nên chúngtôi cảmthấy còn sống thoảimái khálâu nữa, tuy vợ-chồng đã bướcvào tuổi 85-90. Để concái khỏi phiềnhà về hậusự, chúngtôi đã đếncoi Mt. Calvary Catholic Cemetery của Giáophận Portland và chọn rồi muađứt một đơnvị nghỉyên tại Outdoor Condo Mausoleum, Unit 3 – St. Thadeus Crypt D18. Sợ lửanóng sợ đấtlạnh, cô Ánh-Nguyệt sẽ annghỉ giấc ngànthu tại Unit 3 này, thongdong nhànnhã như đang sống ở cănnhà hiệnnay, vì phongcảnh hai nơi tươngtự nhưnhau với câycối xanhtươi.

Cănnhà hiệntại:

08E4C499-56B0-4ED1-8577-86222F705FC0

Mảnh rừng bên suối sau nhà … Lung linh ánh nắng xuyên qua lá cành.

261A5BD4-137E-4E34-BF89-7169E60E60FC

7EEF95C1-688B-4A95-9D71-8E13BF5EEC30.jpeg

Cănnhà tươnglai:

A233606B-8615-4233-BD43-5C94378D15C8

Đến giờ thanh thản ra đi … Hồn về với Chúa có gì mà lo …

Xác hèn đem đốt thành tro … Bạn bè thân thích hát hò reo vang …

Mừng tôi tới nước thiên đàng … Gặp cha gặp mẹ họ hàng tổ tiên …

Nhất là gặp lại vợ hiền … Trần duyên một kiếp thiên duyên muôn đời.

30BA1BB4-5D82-4F17-8640-851343B201AA.jpeg

 

Posted in Memoirs-Vietnamese | Leave a comment

Friends (2) …

Đại Hội Thụ-Nhân in Houston, TX and San-José, CA

A visit to San-José, CA and Los-Angeles, CA

A visit to Chicago, IL and Atlanta, GA

Teacher Recognition Day in Washington, DC

A.- Prof. Phó Bá Long and ex-students in Washington, DC

B- A visit to Montreal, Quebec, CANADA

A.- A visit to Paris, FRANCE

                    B.- A visit to Toronto, Ontario, CANADA

Posted in Memoirs-Pictures | Leave a comment